Skip to content
Opens in a new window
Listen to this chapter • 5:59

[1] Phần đất của đại tộc Giu-đa chạy dài từ biên giới Ê-đôm, ngang qua hoang mạc Xin đến tận cuối miền nam. i1

[2] Biên giới phía nam của Giu-đa chạy từ vịnh phía nam của Biển Chết,

[3] trải dài về phương nam qua đèo Ạc-ráp-bim, dọc theo hoang mạc Xin, vòng qua Ca-đê Ba-nê-a ở cực nam, qua Hết-rôn, lên Át-đa, vòng qua Cát-ca,

[4] qua Át-môn, lên đến Suối Ai Cập, ra đến biển. Đó sẽ là ranh giới phía nam của anh em. i1

[5] Biên giới phía đông chạy dài từ Biển Chết cho đến cửa Sông Giô-đan. i1 Biên giới phía bắc chạy từ vịnh nơi Sông Giô-đan đổ vào Biển Mặn,

[6] qua Bết-hốt-la, dọc theo phía bắc Bết-a-ra-ba, lên phía tảng đá Bô-han (con của Ru-bên),

[7] qua Đê-bia trong thung lũng A-cô, chạy lên phía bắc đến Ghinh-ganh, đối diện dốc A-đu-mim ở phía nam thung lũng này, rồi chạy qua mé nước Ên-sê-mết, đến Ên-rô-ghên.

[8] Biên giới này tiếp tục chạy qua thung lũng Hi-nôm đến phía nam đất Giê-bu (Giê-ru-sa-lem), lên đến đỉnh núi đối diện phía tây thung lũng Hi-nôn, đến bờ phía bắc thung lũng Rê-pha-im.

[9] Từ đó, biên giới chạy từ đỉnh núi đến suối Nép-thô-ách, qua các thành trên núi Ép-rôn, vòng quanh Ba-la tức Ki-ri-át Giê-a-rim.

[10] Rồi biên giới vòng qua phía tây Ba-la, đến núi Sê-i-rơ, qua Kê-sa-long bên triền phía bắc núi Giê-a-rim, xuống Bết-sê-mết, qua Thim-na,

[11] qua góc phía bắc của Éc-rôn, quanh Siếc-rôn, qua núi Ba-la, đến Giáp-nê-ên và chấm dứt ở biển. i1

[12] Biên giới phía tây là bờ Biển Lớn. Đây là biên giới dành cho con cháu của đại tộc Giu-đa.

[13] Giô-suê tuân lệnh Chúa Hằng Hữu, cho Ca-lép con Giê-phu-nê một phần đất Giu-đa. Đó là thành Ki-ri-át A-ra-ba (tên của tổ tiên A-nác), nay gọi là Hếp-rôn.

[14] Có ba người con trai của A-nác (Sê-sai, A-hi-man, và Thanh-mai) đang ở trong thành, nhưng họ đều bị Ca-lép đuổi đi.

[15] Từ đó Ca-lép tiến đánh Đê-bia (tên cũ là Ki-ri-át Sê-phe).

[16] Ca-lép nói: “Tôi sẽ gả con gái tôi là Ạc-sa cho người nào có công đánh chiếm Ki-ri-át Sê-phe.”

[17] Ốt-ni-ên, con của Kê-na, em Ca-lép, lập công đầu, chiếm thành, và được Ca-lép gả con gái là Ạc-sa cho người làm vợ.

[18] Khi Ạc-sa đã lấy Ốt-ni-ên, nàng có giục chồng xin cha mình một sở ruộng. Lúc sắp lên đường theo chồng, nàng xuống lừa. Thấy thế, Ca-lép hỏi: “Con muốn gì?”

[19] Nàng thưa: “Con xin cha một ân huệ. Vì cha đã cho con vùng đất Nê-ghép khô cằn, xin cha cho con thêm mấy suối nước nữa.” Ca-lép cho nàng các suối nước thượng và hạ.

[20] Vậy, sản nghiệp của đại tộc Giu-đa gồm có: i1

[21] Các thành miền cực nam Giu-đa, gần biên giới Ê-đôm: Cáp-xê-ên, Ê-đe, Gia-gu-a,

[22] Ki-na, Đi-mô-na, A-đa-đa,

[23] Kê-đe, Hát-so, Ích-nan,

[24] Xíp, Tê-lem, Bê-a-lốt,

[25] Hát-so Ha-đa-ta, Kê-ri-giốt Hếp-rôn (tức Hát-so),

[26] A-mam, Sê-ma, Mô-la-đa,

[27] Hát-sa Ga-đa, Hết-môn, Bết Pha-lết,

[28] Hát-sa-su-anh, Bê-e-sê-ba, Bi-sốt-gia,

[29] Ba-la, Y-im, Ê-xem,

[30] Ê-thô-lát, Kê-sinh, Họt-ma,

[31] Xiếc-lác, Mát-ma-na, San-sa-na,

[32] Lê-ba-ốt, Si-lim, A-in, và Rim-môn—tất cả là hai mươi chín thành với các thôn ấp phụ cận. i1

[33] Các thành trong đồng bằng: Ết-tha-ôn, Xô-ra, Át-na,

[34] Xa-nô-a, Ên-ga-nim, Tháp-bu-a, Ê-nam,

[35] Giạt-mút, A-đu-lam, Sô-cô, A-xê-ca,

[36] Sa-a-ra-im, A-đi-tha-im, Ghê-đê-ra, và Ghê-đê-rô-tha-im—cộng là mười bốn thành với các thôn ấp phụ cận. i1

[37] Xê-nan, Ha-đa-sa, Mích-đanh-gát,

[38] Đi-lan, Mít-bê, Giốc-thê-ên,

[39] La-ki, Bốt-cát, Éc-lôn,

[40] Cáp-bôn, La-mam, Kít-lít,

[41] Ghê-đê-rốt, Bết-đa-gôn, Na-a-ma, và Ma-kê-đa—cộng là mười sáu thành với các thôn ấp phụ cận. i1

[42] Líp-na, Ê-the, A-san,

[43] Díp-tách, Át-na, Nê-xíp,

[44] Kê-i-la, Ách-xíp, và Ma-rê-sa—cộng là chín thành với các thôn ấp phụ cận. i1

[45] Éc-rôn với các thành và các thôn ấp phụ cận.

[46] Các thành giữa Éc-rôn và biển gồm cả các thành gần Ách-đốt với các thôn ấp phụ cận,

[47] Ách-đốt với các thành và thôn ấp phụ cận, Ga-xa với các thành và thôn ấp phụ cận chạy dài cho đến suối Ai Cập và bờ Biển Lớn. i1

[48] Các thành trên đồi núi: Sa-mia, Gia-tia, Sô-cô,

[49] Đa-na, Ki-ri-át Sa-na cũng gọi là Đê-bia,

[50] A-náp, Ết-tê-mô, A-nim,

[51] Gô-sen, Hô-lôn, và Ghi-lô—cộng là mười một thành với các thôn ấp phụ cận. i1

[52] Cũng bao gồm các thành A-ráp, Đu-ma, Ê-sau,

[53] Gia-nim, Bết-ta-bu-a, A-phê-ca,

[54] Hum-ta, Ki-ri-át A-ra-ba cũng gọi là Hếp-rôn, và Si-lô—cộng là chín thành với các thôn ấp phụ cận. i1

[55] Ma-ôn, Cát-mên, Xíp, Giu-ta,

[56] Giê-rê-ên, Giốc-đê-am, Xa-nô-a,

[57] Ca-in, Ghi-bê-a, và Thim-na—cộng là mười thành với các thôn ấp phụ cận. i1

[58] Hanh-hun, Bết-sua, Ghê-đô,

[59] Ma-a-rát, Bết-a-nốt, và Ên-tê-côn—cộng là sáu thành với các thôn ấp phụ cận. i1

[60] Ki-ri-át Ba-anh cũng gọi là Ki-ri-át Giê-a-rim, và Ráp-ba, hai thành với các thôn ấp phụ cận. i1

[61] Các thành trong hoang mạc: Bết-A-ra-ba, Mi-đin, Sê-ca-na,

[62] Níp-san, thành Muối, và Ên-ghê-đi—cộng là sáu thành và các thôn ấp phụ cận.

[63] Nhưng người Giu-đa không đuổi người Giê-bu ra khỏi thành Giê-ru-sa-lem, nên họ vẫn còn sống chung với người Giu-đa cho đến ngày nay.

Giô-suê — Chapters