Skip to content
Opens in a new window
Biên phòng, cảnh sát biển Việt Nam: Hai lực lượng đi đầu trong mở rộng ngoại giao quốc phòng với Úc
17 August 2026

Biên phòng, cảnh sát biển Việt Nam: Hai lực lượng đi đầu trong mở rộng ngoại giao quốc phòng với Úc

Tạp chí Việt Nam

About

Việt Nam và Úc công bố ba tuyên bố chung khi kết thúc chuyến thăm cấp Nhà nước tới Úc của chủ tịch nước Tô Lâm từ ngày 09 đến 12/08/2026. Hai nhà lãnh đạo coi đây là minh chứng cho “sự tương đồng ngày càng lớn về lợi ích chiến lược”. Còn giới quan sát đánh giá sự kiện này là “chưa từng có tiền lệ”. Về hợp tác quốc phòng, hai nước đã trao đổi ba văn kiện hợp tác về tìm kiếm cứu nạn, biên phòng và cảnh sát biển.

Trong một bài viết trên trang The Diplomat, tiến sĩ Nguyễn Hồng Hải nhận thấy "điểm đáng chú ý, các tuyên bố chung cho thấy Việt Nam đang thể hiện tự tin hơn khi đề cập đến "Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương" như một cấu trúc khu vực", thay vì "thận trọng" như trước đây. Điều này cho thấy "Việt Nam đang khẳng định vị thế vững chắc hơn trong cấu trúc khu vực rộng lớn này, thay vì coi đây là khái niệm chủ yếu thuộc về các bên khác".

Để hiểu hơn về quá trình hợp tác an ninh và quốc phòng giữa Việt Nam và Úc, RFI Tiếng Việt phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, chuyên ngành an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Úc.

RFI : Úc và Việt Nam có mối quan hệ hợp tác quốc phòng từ khá lâu, hai nước hợp tác trong những lĩnh vực nào ?

Nguyễn Thế Phương : Nhìn lại lịch sử hợp tác, quan hệ hợp tác quốc phòng Việt được đặt móng từ Bản ghi nhớ Hợp tác Quốc phòng năm 2010, cũng là 16 năm rồi. Và 8 năm sau đó, năm 2018 là Tuyên bố Tầm nhìn chung.

Từ đó tới nay, quan hệ quốc phòng Việt-Úc tập trung vào một số mảng sau đây. Thứ nhất là đào tạo và huấn luyện. Đây là một trụ cột nền tảng. Rất nhiều học viên, sĩ quan Việt Nam đang học ở Học Viện Quốc Phòng Úc, không chỉ ở thủ đô Canberra, mà còn ở những cơ sở huấn luyện quốc phòng khác, nhưng tập trung chủ yếu ở Học Viện Quốc Phòng Úc. Úc là một trong những quốc gia cung cấp rất nhiều học bổng đào tạo ngoại ngữ, cụ thể là tiếng Anh chuyên ngành quân sự và quản lý quân sự chuyên sâu cho các cán bộ sĩ quan quân đội Việt Nam.

Ở chiều ngược lại, Úc họ cũng cử quân nhân sang Việt Nam học tiếng Việt và tham gia một số các khóa đào tạo về quốc phòng tại Học Viện Quốc Phòng ở Việt Nam. Trong quá trình hội nhập quốc tế, nếu so sánh các đối tác quốc phòng, ngoài Mỹ, cứ cho rằng Úc thuộc phương Tây, thì Úc hỗ trợ Việt Nam gần như là nhiều nhất, nhiều khi hơn cả Pháp. Đây là điểm trụ cột nền tảng trong quan hệ quốc phòng Việt-Úc trong khoảng 10 năm qua.

Đọc thêmViệt Nam - Úc : Mối quan hệ “thực chất” dựa trên “niềm tin chính trị”

Điểm thứ hai, một trong những điểm rất nổi bật, là hợp tác trong mảng gìn giữ hòa bình Liên Hiệp Quốc. Úc hỗ trợ toàn diện cho Việt Nam từ vấn đề kỹ thuật, huấn luyện lực lượng cho đến logistic. Hầu như tất cả các lực lượng Việt Nam qua châu Phi để tiến hành các hoạt động gìn giữ hòa bình đều được vận chuyển bằng máy bay vận tải hàng nặng C17 Globemaster của Úc. Từ con người, trang thiết bị cho tới những vấn đề hầu cần từ châu Á tới châu Phi là Úc hỗ trợ Việt Nam cái mảng này, hầu như là duy nhất luôn.

Mảng thứ ba cũng cần được nhắc tới là khắc phục hậu quả chiến tranh. Úc hỗ trợ chia sẻ dữ liệu, kỷ vật chiến tranh, công tác bản đồ để phục vụ cho quá trình rà phá bom mìn và tìm kiếm liệt sĩ Việt Nam mất tích trong chiến tranh.

Và vấn đề được làm một cách thường xuyên, liên tục năm này qua năm khác, chính là tham vấn chính trị quốc phòng cả song phương lẫn đa phương, ví dụ đối thoại chính sách quốc phòng song phương Việt Nam và Úc trước đây thường là cấp thứ trưởng và phối hợp trên các diễn đàn khu vực, ví dụ Diễn đàn bộ trưởng Quốc Phòng ASEAN mở rộng ADMM+.

Đó là bốn lĩnh vực hợp tác quốc phòng Việt-Úc đã tiến hành trong vòng 10 năm qua.

RFI : Kế từ khi hai nước nâng cấp quan hệ lên mức cao nhất - Đối tác Chiến lược toàn diện - mối quan hệ này được phát triển như thế nào và mở rộng ra những lĩnh vực nào

Nguyễn Thế Phương : Khi Việt Nam và Úc nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện từ tháng 03/2024, điểm được mở rộng hợp tác là thỏa thuận gìn giữ hòa bình, trong giai đoạn hợp tác mới thì sẽ không đơn lẻ mà sẽ mở rộng ra rất nhiều lĩnh vực khác nhau. Trước đây lực lượng gìn giữ hòa bình Việt Nam tham gia vào hai mảng : quân y và công binh. Đây vốn là hai mảng phi tác chiến và Việt Nam, từ hồi chiến tranh tới giờ, có rất nhiều kinh nghiệm và khả năng thực hiện một cách tốt nhất.

Từ 2024 tới nay, Việt Nam và Úc sẽ mở rộng lĩnh vực đó, không chỉ công binh, y tế mà còn cả cảnh sát. Tức là công an Việt Nam tham gia vào gìn giữ hòa bình. Úc cũng sẽ tham gia vào quá trình huấn luyện lực lượng đó. Hợp tác quân chủng giữa hai bên cũng được mở rộng, gia tăng hoạt động giao lưu trao đổi kinh nghiệm cụ thể, phòng không, không quân, đặc biệt là biên phòng và cảnh sát biển. Bởi vì Việt Nam ưu tiên sử dụng những lực lượng phi tác chiến trong bối cảnh mở rộng ngoại giao quốc phòng, trong đó biên phòng và cảnh sát biển là hai lực lượng có thể đi đầu trong mảng này. Ngoài ra, Việt Nam còn mở rộng tham gia vào một số cuộc tập trận đa phương mà Úc tham gia.

Đọc thêmNhững kỳ vọng về quan hệ "Đối tác chiến lược toàn diện" giữa Việt Nam và Úc

Và cuối cùng là mở rộng sang lĩnh vực an ninh phi truyền thống, ví dụ an ninh hàng hải và thúc đẩy luật pháp quốc tế, tôn trọng UNCLOS 1982, tăng cường nhận thức hàng hải ở Biển Đông, tăng cường hợp tác trong việc thực thi pháp luật trên biển giữa cảnh sát Việt Nam và Úc, có thể cải thiện an ninh mạng và công nghiệp quốc phòng. Đây là một mảng mới tại vì thật ra công nghiệp quốc phòng Úc, tính đến thời điểm hiện tại cũng không nổi bật lắm so với một số nước phát triển khác như Ấn Độ, nhưng vẫn có những điểm mà hai bên có thể hợp tác được. Tiếp theo là phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và an ninh biên giới cũng được hai bên đẩy mạnh. Và cuối cùng là cứu hộ cứu nạn vì biến đổi khí hậu. Trong khoảng thời gian gần đây, hai bên tăng cường hợp tác mảng này, chia sẻ thông tin, kinh nghiệm, cải thiện năng lực cứu hộ cứu nạn cho cả hai nước.

RFI : Nhân chuyến công du nước Úc của ông Tô Lâm, hai nước cũng đã ký biên bản ghi nhớ về hợp tác thực thi pháp luật hàng hải, tăng cường hợp tác quân sự. Vậy trong thời gian tới, sự hợp tác này sẽ được phát triển theo những hướng nào ? 

Nguyễn Thế Phương : Hai nước đã trao đổi các văn kiện hợp tác quan trọng, nhất là một biên bản ghi nhớ - MOU về hợp tác thực thi pháp luật trên biển giữa cảnh sát biển và biên phòng Việt Nam với lại lực lượng quản lý biên giới Úc.

Thứ hai là tuyên bố tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng cập nhật, xác lập một bước phát triển nguyên tính bản lề về định hướng quốc phòng giữa Việt Nam và Úc trong thời gian tới. Ở đây sẽ có một số điểm như sau.

Thứ nhất là nâng cấp năng lực và thực thi pháp luật hàng hải. Trọng tâm sẽ là tăng cường những hoạt động giao lưu giữa hai bên, và đặc biệt là chia sẻ về khả năng hợp tác tác chiến và vận hành giữa lực lượng cảnh sát biển, biên phòng Việt Nam và lực lượng quản lý biên giới Úc, chia sẻ thông tin tình báo hàng hải, phối hợp tuần tra chống đánh bắt cá trái phép và đặc biệt là xử lý di dân bất hợp pháp. Cụ thể, Úc sẽ hỗ trợ Việt Nam nâng cao năng lực giám sát không gian biển, thông qua các chương trình trong khuôn khổ đối tác hàng hải Úc và Đông Nam Á. Và Úc cũng sẽ giúp cho Việt Nam giám sát tốt hơn các hoạt động ở vùng biển tranh chấp trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế.

Đọc thêmHợp tác an ninh hàng hải giữa Úc với Việt Nam sẽ “không phô trương” như với Philippines

Điểm thứ hai là cứu hộ cứu nạn và hỗ trợ thảm họa, cũng sẽ được đẩy mạnh trong tương lai, liên quan tới hoạt động huấn luyện và diễn tập chung. Tại sao điểm này là điểm khá quan trọng ? Bởi vì quân đội Việt Nam và quân đội Úc cũng sẽ mở rộng quy mô các cuộc diễn tập đa phương và tương tác giữa các quân binh chủng. Trong tương lai, Việt Nam sẽ tiếp tục mở rộng tham gia vào các cuộc diễn tập do Úc chủ trì. Ví dụ cuộc diễn tập Hải Quân đa phương Kakadu, Việt Nam đã tham gia trong hai năm 2024, 2026. Việt Nam cũng sẽ tiếp tục cử quan sát viên tới cuộc diễn tập Talisman Sabre. Trong tương lai, tần suất cũng như là nội dung tham gia sẽ được mở rộng ra thêm. Và tương tác quân binh chủng cũng sẽ tập trung chuyên sâu vào các mảng mà hai bên có thế mạnh, ví dụ như quân y, công binh và chống khủng bố.

Ngoài ra, còn có một mảng là phòng chống tội phạm xuyên quốc gia và an ninh phi truyền thống thì sẽ tập trung vào phòng chống tội phạm mạng và lừa đảo trực tuyến, an ninh biên giới. Bộ Quốc Phòng, bộ Công An Việt Nam sẽ hợp tác với bộ Nội Vụ và Cảnh sát Úc trong chống buôn lậu, rửa tiền, ma túy.

Tóm lại, hướng đi tương lai của hợp tác quốc phòng Việt-Úc sẽ bám sát vào tinh thần của quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai bên. Và ở đây, Việt Nam nhấn mạnh tới điểm là không hướng tới “liên minh quân sự” chống lại bên thứ ba và hợp tác là nhằm nâng cao năng lực tự chủ của cả hai bên và đóng góp vào ổn định và hòa bình của toàn bộ khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương.

RFI : Giới chuyên gia và truyền thông phương Tây đều nhắc đến Trung Quốc và Hoa Kỳ trong sự gia tăng hợp tác an ninh giữa Úc và Việt Nam cho dù không trực tiếp nêu tên. Mỹ và Trung Quốc đóng vai trò như thế nào trong chiến lược tăng cường hợp tác giữa Úc và Việt Nam ?  

Nguyễn Thế Phương : Cả hai nước đều là hai nước lớn. Và quá trình cạnh tranh hợp tác giữa Mỹ và Trung Quốc ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương luôn là một yếu tố cấu trúc nền tảng trong bất kỳ mối quan hệ an ninh quốc phòng nào, không chỉ của Việt Nam và Úc mà còn của tất cả cặp song phương khác ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương.

Ở đây, Trung Quốc là yếu tố tạm gọi là “động lực thúc đẩy chính” cho quan hệ Việt-Úc, thì Trung Quốc tạo nên “đồng quy chiến lược” giữa Việt Nam và Úc. Cả Úc và Việt Nam đều là những quốc gia phụ thuộc vào các tuyến đường hàng hải thông qua biển, ở đây là Biển Đông. Và sự gia tăng độ hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông làm cho cả hai bên lo ngại về nguy cơ luật pháp quốc tế bị xói mòn, tạo ra một xung đột không đáng có ở khu vực có tầm quan trọng với giao thương quốc tế là rất cao. Hợp tác an ninh hải sẽ giúp cả Việt Nam và Úc nâng cao năng lực giám sát, cũng như là thực thi pháp luật trên biển.

Thứ hai là yếu tố gọi là hedging - phòng ngừa rủi ro. Đối với Úc, họ mong muốn mở rộng quan hệ mạng lưới an ninh với các quốc gia tầm trung ở Đông Nam Á mà Việt Nam là một trong những quốc gia tầm trung quan trọng nhất ở Đông Nam Á. Đối với Việt Nam, tăng cường quan hệ với Úc sẽ giúp Việt Nam đa dạng hóa đối tác và nâng cao năng lực tự chủ quốc phòng mà không tạo ra đối đầu trực tiếp với Bắc Kinh. Điểm này được Việt Nam gọi là “cân bằng mềm”. Tăng cường hợp tác với Úc, ở đây không nói về Mỹ, để tạo một tấm đệm để Việt Nam đa dạng hóa nguồn lực.

Và cuối cùng, điểm này tương đối mới ở thời điểm hiện tại, đó là giảm thiểu rủi ro chuỗi cung ứng. Hợp tác với Úc không chỉ lĩnh vực quốc phòng và thuần an ninh, mà nó còn mở ra sang lĩnh kinh tế, cụ thể là khoáng sản thiết yếu, chuỗi cung ứng, làm tránh phụ thuộc quá lớn vào thị trường hay là tránh bị gây sức ép từ phía Trung Quốc. Đó là những lý do khiến cho Trung Quốc là chất xúc tác để Việt Nam và Úc có thể nhận ra được lợi ích chung của cả hai bên trong việc tăng cường hợp tác.

Đọc thêmTừ AUKUS đến Bộ Tứ : Gọng kềm Mỹ đang siết lại với Trung Quốc ở Thái Bình Dương

Đối với Mỹ, Mỹ sẽ xem đó là một điểm tựa mang tính cấu trúc. Từ Chiến tranh Thế thứ hai cũng như từ Chiến tranh lạnh tới nay, Mỹ là nhà cung cấp an ninh (security provider) rất lớn cho khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương. Và nó thể hiện thông qua việc Úc là đồng minh lâu đời của Mỹ. Úc nằm trong liên minh AUKUS, trong nhóm Bộ Tứ QUAD, nằm trong liên Minh Mỹ-Úc-New Zealand - ANZUS. Việc Úc chủ động thắt chặt an ninh với Việt Nam phù hợp với chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương của Mỹ. Washington đang cố gắng xây dựng một mạng lưới đối tác tự chủ và có khả năng tự bảo vệ luật lệ ở khu vực Ấn Độ-Thái Bình Dương mà Mỹ không cần phải can thiệp quá sâu.

Điểm thứ hai là mở rộng quan hệ song phương Việt-Úc có thể tạo ra một dư địa cho Hà Nội. Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ năm 2023, một năm sau là nâng cấp quan hệ với Úc lên đối tác chiến lược toàn diện. Và điều này cho thấy Việt Nam đang chủ động định vị lại bản thân trong một không gian chiến lược bắt đầu đa cực, trong đó các cường quốc tầm trung nổi lên và có tiếng nói lớn hơn so với trước đây. Và quan hệ song phương vững chắc với Úc cho phép Việt Nam tiếp cận các nguồn lực an ninh, huấn luyện kỹ thuật mang chuẩn mực phương Tây mà không bị gán nhãn là đi theo liên minh quân sự với Mỹ ở một mức độ nhất định, ở thời điểm này đối với Việt Nam là tương đối quan trọng.

Điểm cuối cùng mà cả hai bên đều thể hiện là Úc và Việt Nam đều lo ngại về sự thiếu ổn định trong chính sách của Mỹ. Cả Việt Nam và Úc đều nhận thức được là chính sách đối ngoại của Washington dưới thời Donald Trump khá bất định. Và hợp tác song phương Úc-Việt là một cách để hai nước tự xây dựng mắt xích an ninh khu vực, mà không hoàn toàn phụ thuộc vào sự can thiệp của Mỹ và những gì mà Mỹ làm ở khu vực cũng như là những khu vực khác.

Mỹ và Trung Quốc thúc đẩy Việt Nam và Úc tới gần với nhau hơn, nhưng sự hiện diện của cả hai siêu cường cũng đặt ra một số ranh giới rõ ràng cho hợp tác an ninh Việt-Úc.

Thứ nhất là tư duy tránh chọn bên của Việt Nam. Đây là một hằng số cố định trong tư duy chiến lược của Việt Nam. Bởi vì Việt Nam luôn nhất quán thực hiện chính sách quốc phòng “bốn Không” và trường phái “ngoại giao cây tre”. Tăng cường hợp tác với Úc để bảo về chủ quyền chứ không chọn Úc, Mỹ để chống Trung Quốc.

Thứ hai là ngay cả Úc cũng có một sự cân bằng thực dụng. Phía Úc nhận thức rõ được điểm này của Việt Nam. Thực tế mà nói trong những thảo luận song phương, Úc cũng không ép Việt Nam phải cam kết theo quy tắc “đồng minh” kiểu phương Tây mà tập trung vào nâng cao năng lực thực chất hơn, ví dụ những mảng mà cả hai bên, ở thời điểm hiện tại, với mức độ quan hệ hiện tại, đều thoải mái trong việc trao đổi thông tin, trao đổi quân sự.

RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.